Thứ Năm, 11/08/2022, 2:38
Hotline: 0909 787 757 - Email: taichinhcuocsong.vn@gmail.com
HomePháp luậtHướng tới hệ thống an sinh đáp ứng được các ‘cú sốc...

Hướng tới hệ thống an sinh đáp ứng được các ‘cú sốc diện rộng’

Trong năm 2021, các chính sách hỗ trợ ra đời một cách “thần tốc”, thể hiện sự chia sẻ của Đảng, Nhà nước với người khó khăn, chống đứt gãy thị trường lao động, nỗ lực thích ứng với trạng thái bình thường mới. Năm 2022, ngành LĐTB&XH đặt mục tiêu tăng cường hiệu quả các chính sách an sinh xã hội hiện hành, nỗ lực hướng tới hệ thống an sinh đáp ứng với các “cú sốc diện rộng” như đại dịch COVID-19.

Các Bộ, ngành, địa phương thảo luận về các giải pháp bảo đảm an sinh xã hội trong năm 2022. Ảnh: VGP/Thu Cúc.

Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH Đào Ngọc Dung nhận định như vậy tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ lao động, người có công và xã hội năm 2022 do Bộ LĐTB&XH tổ chức chiều 12/1.

Hỗ trợ hơn 42,8 triệu lượt người bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19

Trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp đã làm xuất hiện và gia tăng các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, cần được trợ giúp mà hệ thống an sinh xã hội hiện hành chưa bao phủ tới, Bộ LĐTB&XH đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành liên quan trình Chính phủ ban hành các chính sách hỗ trợ nhằm đảm bảo an sinh xã hội, có chính sách chưa có tiền lệ để hỗ trợ người dân vượt qua khó khăn như Nghị quyết số 68, Nghị  quyết số 116 và Nghị quyết số 126. Đây là các quyết sách quan trọng, kịp thời bổ sung và gia tăng năng lực hoạt động cho hệ thống an sinh xã hội ứng phó hiệu quả hơn trong đại dịch.

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung thông tin chỉ trong thời gian vài tháng, với điều kiện rất khó khăn trong bối cảnh thực hiện giãn cách xã hội, việc thực hiện Nghị quyết 68 và Nghị quyết 116 đã đem lại hiệu quả rất thiết thực, dư luận xã hội, người lao động, chủ sử dụng lao động đồng tình cao.

Theo đó, Trung ương và các địa phương đã dành tổng kinh phí 71.482 tỷ đồng thực hiện các chính sách hỗ trợ gần 742 nghìn lượt người sử dụng lao động và trên 42,8 triệu lượt người lao động và các đối tượng khác.

Trong triển khai Nghị quyết số 68, cả nước có 378.300 lượt người sử dụng lao động, trên 30 triệu lượt người lao động và các đối tượng khác được hỗ trợ với tổng kinh phí là 33.564 tỷ đồng. Triển khai Nghị quyết số 116, có 363.600 lượt người sử dụng lao động và 12,6 triệu lượt người lao động được hỗ trợ với tổng kinh 37.918 tỷ đồng từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp.

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cũng cho biết Nghị quyết 116 về hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp đã ra đời một cách “thần tốc”. Chính sách thể hiện sự chia sẻ của Nhà nước với người khó khăn, chống đứt gãy thị trường lao động, nỗ lực thích ứng với trạng thái bình thường mới, phát huy ý nghĩa bảo hiểm thất nghiệp là chỗ dựa, điểm nâng đỡ với người lao động.  

“Đến nay, cả 2 Nghị quyết 68 và 116 đều đã thực hiện đạt và vượt kết hoạch đề ra. Nghị quyết 68 ban đầu xác định giá trị 26.000 tỷ đồng, thực tế đã thực hiện với mức 33.000 tỷ đồng. Nghị quyết 116 trị giá 38.000 tỷ đồng, đến nay đã hoàn thành 100% mục tiêu. Các chính sách đã triển khai với nguồn lực tuy chưa thật lớn, song đã đáp ứng kịp thời các yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ an sinh xã hội, hỗ trợ nền kinh tế, đặc biệt là các trung tâm, các địa bàn tăng trưởng trọng điểm vượt qua giai đoạn khó khăn”, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung đánh giá.

Bên cạnh đó, dịch COVID-19 cũng đã ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường lao động, lao động không có việc làm và thất nghiệp tăng, thu nhập của người lao động giảm. Bộ LĐTB&XH đã ban hành Chương trình phục hồi và phát triển thị trường lao động với hàng loạt giải pháp nhằm thu hút lao động ngoại tỉnh quay lại thành phố làm việc; tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030; chỉ đạo các địa phương theo dõi chặt chẽ, nắm tình hình lao động, nhất là trong các khu công nghiệp, để kịp thời có phương án hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục tình trạng thiếu hụt lao động; tăng cường thực hiện các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, tổ chức các sàn giao dịch việc làm trực tuyến; chỉ đạo thực hiện chính sách cho vay vốn hỗ trợ tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm.

Người đứng đầu ngành LĐTB&XH cũng nhận định, thực hiện nhiệm vụ được giao, ngành đã triển khai bài bản, căn cơ các chính sách xã hội, tập trung chăm lo ngày một tốt cho người có công với cách mạng, đối tượng trợ giúp xã hội, đối tượng yếu thế… nhằm đảm bảo an sinh xã hội, đặc biệt trong giai đoạn bị ảnh hưởng nặng nề của đại dịch.

Cụ thể, Bộ đã tham mưu trình Chính phủ ban hành 2 nghị định quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công, đảm bảo chăm lo tốt hơn cho người có công cả về vật chất và tinh thần, Nghị định số 20 mở rộng diện bao phủ và tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội từ ngày 1/7/2021 lên 360 nghìn đồng/tháng.

Ngành cũng kịp thời trình Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 05 và tham mưu cho Quốc hội, Chính phủ ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2030, với quyết tâm đổi mới, phát huy nội lực vươn lên “thoát nghèo, xây dựng cuộc sống ấm no” của người dân và cộng đồng, phấn đấu “Vì một Việt Nam không còn đói nghèo”.

Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH Đào Ngọc Dung nhấn mạnh 6 giải pháp bảo đảm an sinh xã hội trong năm 2022. Ảnh: VGP/Thu Cúc.

Phục hồi, củng cố, tạo “sức bật” cho thị trường lao động

Nhấn mạnh về nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2022, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết ngành LĐTB&XH đặt ra nhiệm vụ hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và gắn với thực thi nghiêm pháp luật. Về vấn đề lao động, việc làm, ngành LĐTB&XH đặt mục tiêu phục hồi, củng cố và vận hành thị trường lao động phù hợp với tiến trình phục hồi nền kinh tế; nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, phát triển nhân lực có kỹ năng nghề thích ứng với điều kiện sản xuất mới; thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, tiền lương, quan hệ lao động và an toàn, vệ sinh lao động. 

Để bảo đảm an sinh xã hội, phục hồi sản xuất, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nêu lên 6 nhóm giải pháp cụ thể.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, hỗ trợ phục hồi và phát triển thị trường lao động, việc làm. Trong đó, duy trì lực lượng lao động, nhất là trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, tăng cường các biện pháp giữ chân người lao động đang làm việc, không để đứt gãy chuỗi cung ứng nguồn lao động cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; hỗ trợ người lao động được vay vốn giải quyết việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm. Đây là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu để phục hồi nền kinh tế trong giai đoạn tới.

Thứ hai, tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 và thiên tai, rủi ro. Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động, tăng khả năng kết nối cung – cầu trên thị trường, hình thành hệ thống thu thập, chia sẻ thông tin về việc tìm người và người tìm việc.

Thứ ba, phát triển giáo dục nghề nghiệp, tăng cường đào tạo thường xuyên, đào tạo lại lao động và tăng cường chuẩn hóa chất lượng lao động trình độ kỹ năng nghề giúp người lao động có cơ sở và cơ hội thuận lợi học tập nâng cao trình độ kỹ năng đáp ứng nhu cầu phục hồi và phát triển kinh tế bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực có chất lượng cao, có kỹ năng cho thị trường lao động và yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thứ tư, tăng cường hiệu quả các chính sách an sinh xã hội hiện hành, nỗ lực hướng tới hệ thống an sinh đáp ứng với các “cú sốc diện rộng”. Trong đó chú trọng xây dựng kịch bản, phương án và triển khai các chính sách xã hội đã ban hành bảo đảm an dân và an sinh xã hội đối với người dân, hộ người nghèo, người yếu thế và phù hợp với tình hình thực hiện phòng, chống dịch COVID-19; phát triển hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân với các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân.

Thứ năm, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Hoàn thiện hệ thống thu thập thông tin, cơ sở dữ liệu về các nhóm đối tượng, bảo đảm liên thông giữa địa phương với trung ương, giữa các ban, ngành.

Thứ sáu, chăm lo, tạo môi trường an toàn để bảo đảm phát triển đầy đủ quyền của trẻ em, phòng, chống bạo lực, xâm hại phụ nữ và trẻ em.

Theo Cổng TTĐT Chính phủ Thu Cúc

Link gốc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phổ biến